Vô Thường, X-Cafe chuyển ngữ
Phần 2
Vấn đề xung đột: Viện trợ Trung Quốc, Liên Xô và Campuchia
Có 5 yếu tố chính dẫn đến cuộc xung đột Trung-Việt 1979 gồm: viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam trong Chiến tranh Đông Dương (1946-1954) và Chiến tranh Việt Nam (1964-1975), can thiệp của Liên Xô, vấn đề Campuchia, tranh chấp lãnh thổ và Hoa kiều tại Việt Nam. Một số vấn đề có nguồn gốc xâu xa của lịch sử, nhưng tất cả chỉ trở nên nghiêm trọng ngay sau khi quan hệ Việt-Trung trở xấu đi. Những vấn đề này sẽ được xem xét tại Chương 2 và 3.
Viện trợ của Trung Quốc
Để hỗ trợ cuộc chiến lâu dài giành độc lập và hiện đại hóa của Việt Nam, CHND Trung Hoa đã thực hiện nghĩa vụ quốc tế xã hội chủ nghĩa của mình. Khi Trung Quốc viện trợ mà không kèm theo bất cứ điều kiện nào thì mối qua hệ hai nước tốt đẹp. Nhưng xung đột và khó khăn nảy sinh khi hai bên có lợi ích khác nhau. Trong Chiến tranh Đông Dương và Chiến tranh Việt Nam, mối quan hệ xung đột-hợp tác này được xây dựng giữa hai nước.
Chiến tranh Đông Dương (1946-1954)
Pháp tấn công Việt Nam tại Hải Phòng mở đầu Chiến tranh Đông Dương vào tháng 11 năm 1946. Lên kế hoạch tái chiếm toàn bộ bán đảo Đông Dương và được khuyến khích bởi môi trường chống cộng quốc tế trong những năm đầu của thời kỳ chiến tranh lạnh (1946-1947), quân đội Pháp mở cuộc tiến dữ dội chống lại Việt Minh (Việt Nam Độc Lập Đồng Minh) vào cuối năm 1947. Cuộc tấn công buộc Hồ Chí Minh phải bỏ rơi tất cả những thành phố chính tại miền bắc Việt Nam. Hồ Chí Minh rút quân và tản vào rừng tại khu vực biên giới Việt-Trung. Trong thế trận quân Pháp phía trước và Trung Hoa dân Quốc phía sau, lực lượng của Hồ Chí Minh bị cô lập và không thể hoạt động. Trong giai đoạn này, nhiều quan chức Pháp ở Đông Dương đã tuyên bố sẽ không còn có bất kỳ khó khăn quân sự nào tại Đông Dương nữa. Tuy nhiên tài năng xoay sở của Hồ Chí Minh và sự ngoan cường của binh lính đã ngăn chặn Việt Minh đi đến sụp đổ.
Việt Minh hết sức phấn khởi với chiến thắng của Trung Cộng trước Trung Hoa Dân Quốc vào năm 1949. Vào tháng 7 năm đó, Phạm Ngọc Thạch, Bộ trưởng Y Tế chính phủ Việt Minh, đã nói với nhà văn Pháp rằng: “Thành công của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc… báo trước sự chấm dứt chuổi ngày đen tối” của Việt Minh. Tháng 11, Lưu Đức Phổ, trưởng phái đoàn Việt Nam tại Hội nghị Công đoàn Australia và Châu Á tại Bắc Kinh đã lặp lại tích cực nhất bài phát biểu về mô hình cách mạng của Lưu Thiếu Kỳ. Ông nói mô hình của Lưu Thiếu Kỳ “phải được xem như là kim chỉ nam cho tất cả công nhân tại Đông Nam Á”.
Tất nhiên đối với Việt Minh sự thay đổi lớn đã không xảy ra cho đến khi Trung Cộng viện trợ ồ ạt vào năm 1950. Sau chuyến thăm bí mật của Hồ Chí Minh đến Bắc Kinh vào đầu năm 1950. Bắc Kinh nhanh chóng gửi tướng Trần Canh đến Việt Nam để giúp tổ chức, huấn luyện quân Việt Nam và chuẩn bị cho những chuyến dịch sắp đến. Tronh khi đó, theo yêu cầu của Hồ Chí Minh, Bắc Kinh gửi đến Việt Nam một đoàn cố vấn quân sự do Tướng Vi Quốc Thanh đứng đầu. Một nhóm cố vấn chính trị do La Quý Ba (Lo Kwei-po, cựu đại sứ đầu tiên của Trung Quốc tại Việt Nam) cũng được gửi đến Việt Nam để truyền bá kinh nghiệm của Trung Quốc về kinh tế tài chính, chỉnh đốn cán bộ, tư tưởng, công việc điều hành và huy động quần chúng.
Trước tháng 9 năm 1950, Vân Nam và Quảng Đông đã giúp huấn luyện và trang bị cho 5 sư đoàn (sư đoàn 304, 308, 312, 316 và 320) và cung cấp hàng nghìn tấn vú khí. Trước cuộc tấn công năm 1950, Việt Minh được cho là có 250.000 quân chính quy và lính du kích với 30 khẩu pháo binh, 140 súng cối, 230 súng máy và 100.000 súng trường. Sự chuẩn bị cho cuộc chiến đã hoàn thất và với tinh thần rất cao. Quan chức Pháp tại Sài Gòn dự báo vào giữa tháng 8 rằng quân Việt Minh được huấn luyện tốt sẽ sớm tấn công mạnh quân Pháp. Một tuần sau đó, Đài Bắc Kinh cũng đưa ra tuyên bố tương tự.
Gần một tháng sau lời tuyên bố của Bắc Kinh, Việt Minh phát động một cuộc tấn công dữ dội và được tổ chức tốt chống lại Pháp từ ngày 16 tháng 9 đến ngày 2 tháng 11. Việt Minh đã “tiêu diệt hơn 10.000 lính Pháp”, phá hủy toàn bộ hệ thống của Pháp từ Cao Bằng đến Lạng Sơn. Khi kết thúc cuộc tiến công, Tướng Võ Nguyên Giáp đã nói với các sĩ quan của mình: “Từ trận này, chúng ta càng hiểu rỏ hơn sự lớn lao của tư tưởng Mao Trách Đông. Tôi mong rằng tất cả chúng ta sẽ nỗ lực gấp đôi để học tập tư tương này, nhất là học thuyết quân sự của Mao”.
Sau khi kết thúc chiến dịch 1950, phái đoàn quân sự Trung Quốc tiếp tục giúp Việt Minh tổ chức các chiến dịch như Trung Du (đoạn giữa Sông Hồng, năm 1950), Đông Bắc (1951), Ninh Bình (1951), Tây Bắc (1952) và Thượng Lào (1953). Việt Minh giành được nhiều thắng lợi. Với sự trợ giúp của cố vấn Trung Quốc, quân đội Việt Minh đã lớn mạnh và cuộc chiến giành độc lộc của họ đã có được điểm tựa. Quân Việt Minh tăng từ 4.000 lên 8.000. Tờ Le Mond tường thuật có khoảng 3.000 đến 4.000 sĩ quan Trung Quốc trong quân đội Việt Minh gồm khoảng 3 đến 4 tướng lĩnh.
Giữa tháng 12 năm 1953 đến tháng 5 năm 1954, phái đoàn quân sự Trung Quốc giúp quân Việt Nam tổ chức và tiến hành chiến dịch lừng danh Điện Biên Phủ. Theo Bắc Kinh: “Tất cả vũ khí, đạn dược, thiết bị thông tin liên lạc, lương thực và thuốc men sử dụng trong chiến dịch này đều do Trung Quốc cung cấp”. Tại thời điểm quan trọng của trận chiến, Pháp lập lại yêu cầu không quân Mỹ tham gia. Tổng thống Eisenhower từ chối lời yêu cầu nhưng quyết định giữ miền nam Việt Nam là một quốc gia phi cộng sản. Kết quả là Việt Nam đã chiếm Điện Biên Phủ vào ngày 7 tháng 5. Quân Pháp gánh chịu một thất bại chưa từng có. Thất bại này gần như chấm dứt luôn chủ nghĩa thực dân Pháp tại Đông Dương. Nhưng Hoàng Văn Hoan đã chỉ ra rằng: “Nếu không có pháo binh do Trung Quốc gửi sang thì Việt Nam không thể phá hủy được những cứ điểm quan trọng của quân Pháp và nếu không có sự tham gia trực tiếp của đồng chí Vi Quốc Thanh tại sở chỉ huy tiền phương trận thì rất khó để đạt được thắng lợi hoàn toàn.” Nhìn chung quan chức quân đội Pháp tại Đương Dương đồng tình với nhận định này.
Nhưng cho đến bây giờ Hà Nội vẫn không thể tin tưởng vào Trung Quốc. Ngay cả với viện trợ dồi dào của Trung Quốc giành cho Việt Minh trong giai đoạn 1950-1954, Hà Nội chỉ đề cập “Trung Quốc là nước cung cấp vũ khí chính cho Việt Nam trong những năm cuối của cuộc chiến tranh chống Pháp”.
Hội nghị Geneva
Tướng Henri Eugene Navarre nhận định thời điểm Việt Minh chiếm Điện Biên Phủ, một ngày trước khi Hội nghị Geneva về Đông Dương khai mạc ngày 8 tháng 5 1954, là một phương kế theo “cố vấn của phái đoàn quân sự Trung Quốc”. Hiển nhiên, mục đích là muốn tăng cường sức mặc cả của Việt Minh tại Geneva.
Những bên tham gia tại Hội nghị Geneva về Đông Dương gồm 9 nước là Pháp, Anh, Liên bang Xô Viết, Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa, Hoa Kỳ, Bắc Việt (Việt Minh, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa), Nam Việt Nam, Lào và Campuchia. Anh và Liên bang Xô Viết giữ cương vị đồng chủ tịch. Có nhiều vấn đề cần phải giải quyết nhưng những vấn đề trọng tâm là làm thế nào để đạt được một thỏa thuận ngừng bắn trên toàn cỏi Đông Dương và một giải pháp chính trị cho Việt Nam. Tất cả những nước tham gia chính trừ Hoa Kỳ đã đóng góp đáng kể vào thành công của hội nghị kể cả Trung Quốc và Bắc Việt.
Tiến trình hội nghị có thể được chia ra làm ba giai đoạn. Giai đoạn đầu từ ngày 8 tháng 5 đến ngày 20 tháng 6 chủ yếu là để đưa ra đề xuất; giai đoạn thứ hai từ ngày 21 tháng 6 đến ngày 7 tháng 9 là giai đoạn các bên về nước bàn thảo và giai đoạn ba từ ngày 10 tháng 7 đến ngày 21 tháng 7 là giai đoạn đàm phán cuối cùng.
Trong giai đọan đầu tiên, điều kiện tiên quyết để ngừng bắn là thỏa thuận để Việt Minh rút lực lượng quân cách mạng ra khỏi Lào và Campuchia. Cùng với đó, Việt Minh cũng cũng đề cập việc tham gia hội nghị của chính quyền cách mạng Pathét Lào và chính quyền Khơme. Tranh cãi nổ ra giữa một bên là Việt Minh và bên kia là Lào và Campuchia. Do tranh luận kéo dài nên tiến trình đạt được rất ít ỏi. Nhiều đại biểu phải kiên nhẫn. Ngày 10 tháng 6, Anthony Eden, vị đồng chủ tịch của Anh đe dọa sẽ rời hội nghị nếu không đạt được thỏa thuận trong thời gian ngắn về vấn đề quân Việt Minh tại Lào và Campuchia và về thành phần của đề xuất Ủy ban Quốc tế (sẽ bàn ở phần sau). Sau khi thỏa luận giữa phái đoàn Liên Xô, Trung Quốc và Việt Minh, Chu Ân Lai, trưởng phái đoàn Trung Quốc, đã đến gặp Eden vào sáng ngày 16 tháng 6, một ngày sau khi tạm hoãn đàm phán về Triều Tiên. Chu Ân Lai nói với Bộ trưởng Ngoại giao Anh rằng sẽ thuyết phục được Việt Minh rút quân khỏi Lào và Campuchia và Trung Quốc sẽ công nhận hai chính phủ hoàng gia này với điều kiện là sẽ không có bất kỳ căn cứ nào của Mỹ đặt tại hai vương quốc này. Eden đã có “ấn tượng mạnh rằng Chu Ân Lai muốn giải quyết vấn đề”. Trong cuộc họp kín vào buổi chiều, Chu Ân Lai chính thức yêu cầu Việt Minh rút quân khỏi Lào và Campuchia. Điều này đã được những người tham gia hội nghị khác xác nhận, kể cả trưởng phái đoàn Việt Nam Phạm Văn Đồng. Báo chí Phương tay ca ngợi đây là một bước tiến đạt đến thỏa thuận. Ngày 19 tháng 6, hiệp định ngừng bắn đầu tiên tại Lào và Campuchia đã đạt được và được xem như là một thành công trong giai đoạn đầu.
Trong giai đoạn hai, các trưởng phái đoàn trở về nước để tham vấn, tuy nhiên có một số sự kiện quan trọng xảy ra bên ngoài hội nghị. Ngày 23 tháng 6 Pierre Mendes gặp Chu Ân Lai tại Bern, Thụy Sĩ. Pierre Mendes là tân thủ tướng Pháp, ông đã dọa sẽ từ chức nếu đến ngày 20 tháng 7 mà thỏa thuận hòa bình tại Đông Dương vẫn chưa đạt được. Cuộc họp làm “xôn xao” giới quan sát nhưng đã đạt được thỏa thuận có tính xây dựng. Thỏa thuận bao gồm đề xuất ngưng bắn tại 3 nước Đông Dương kèm theo một dàn xếp chính trị, đề xuất thống nhất chính phủ tại Việt Nam thông qua bầu cử và Trung Quốc hứa công nhận chính phủ hoàng gia Lào và Campuchia. Sau đó, hầu hết nội dung của thỏa thuận ba điểm này đã được đưa vào Hiệp định Geneva.
Sau đó, trên đường về nước Chu Ân Lai đã ghé thăm Ân Độ. Chu Ân Lai đã tuyên bố 5 năm nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình nổi tiếng với Thủ tướng Nehru. Sau đó, ông đến thăm Myanmar và nhắc lại nguyên tắc 5 điểm với Thủ tướng U Nu. Cuối cùng, Chu Ân Lai, được tháp tùng bởi Hoàng Văn Hoan (sau này là phát ngôn viên của phái đoàn Việt Nam tại Geneva) đã gặp Hồ Chí Minh tại Liễu Châu từ ngày 3 đến ngày 5 tháng 7. Hai bên đồng ý phân chia ranh giới Việt Nam theo như thỏa luận trước đây tại Geneva giữa phái đoàn Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam.
Trong giai đoạn ba từ ngày 10 đến ngày 21 tháng 7, các phái đoàn quay lại Geneva để tập trung đàm phán. Các bên đã thực hiện nhiều thủ đoạn, mặc cả và thỏa hiệp. Việc phân chia ranh giới quân sự tại vỹ tuyến 17 đã đạt được thỏa thuận. Điều này có được thông quan cuộc thảo luận trực tiếp giữa Phạm Văn Đồng và Mendes của Pháp về điều kiện tổ chức tổng tuyển cử trong vòng 2 năm để thống nhất đất nước. Thời điểm tố chức tổng tuyển cử là tháng 7 năm 1956, 2 năm sau khi thúc hội nghị. Một vấn đề quan trọng khác là thành phần của Ủy ban Giám sát Quốc tế. Đề xuất và trả lời đề xuất của những nước cộng sản và phi cộng sản đều bị các bên kiên quyết bác bỏ. Bế tắc lại nảy sinh. Cuối cùng, ngày 18 tháng 7 Chu Ân Lai đề xuất một uỷ ban ba thành viên, gồm bên cộng sản, Tây phương và nhóm nước trung lập, mỗi nước một thành viên bao gồm Ba Lan, Canada và Ấn Độ. Các bên đã nhất trí chấp thuận đề xuất này. “Từ thời điểm đó”, Eden nhớ lại “sự rối loạn chấm dứt và đàm phán bắt đầu được sắp xếp lại”. Truyền thông Bắc Kinh thúc dục mạnh mẽ những nước tham gia chia sẻ quan điểm thoả hiệp này của Chu Ân Lai.
Cuối cùng, Hội nghị Geneva đạt được một số thoả thuận gồm: thoả thuận ngừng bắn trên toàn cỏi Đông Dương, thoả thuận phân chia ranh giới Việt Nam tại vỹ tuyến 17, thoả thuận cấm liên minh quân sự của những nước tại Đông Dương, thoả thuận thành lập Uỷ ban Kiểm soát và Giám sát Quốc tế (ICC) và thoả thuận thống nhất Việt Nam thông qua tổng tuyển cử vào tháng 7 năm 1956. Trong tuyên bố của Phạm Văn Đồng tại phiên họp kết thúc hội nghị, bài xã luận trên báo Nhân Dân ngày 25 tháng 7 và tuyên bố của Hồ Chí Minh trước đồng bào, tất cả đều hoan nghênh thành quả của hội nghị như là một chiến thắng vĩ đại của Việt Nam và thúc dục nhân dân đấu tranh thống nhất đất nước.
Ghi nhận viện trợ của Trung Quốc trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, Phạm Văn Đồng đã tổng kết vào ngày 3 tháng 8 năm 1954 như sau:
“Trong suốt 8 năm kháng chiến, nhân dân Việt Nam đã có được sự ủng hộ nhiệt tình và sự trợ giúp của nhân dân Trung Quốc, Đảng Cộng Sản Trung Quốc và Chính phủ CHND Trung Hoa…Chúng ta đã học hỏi kinh nghiệm của Trung Quốc về đấu tranh vũ trang, chiến tranh nhân dân, cải cách ruộng đất, cải cách dân chủ và vấn đề kinh tế tài chính trong suốt cuộc kháng chiến. Bằng việc kết hợp giá trị kinh nghiệm của Trung Quốc với điều kiện thực tế đấu tranh tại Việt Nam, chúng ta đã giành được những thắng lợi quân sự to lớn và đạt được những thành quả nổi bật về cải cách ruộng đất, kinh tế tài chính và nhiều lĩnh vực khác”.
Bản tuyên bố không chỉ dối trá về chiến thắng quân sự mà còn dối trá trong việc xác nhận đã đạt được một số thành quả về cải cách ruộng đất và kinh tế tài chính. Như Hoàng Văn Hoàn nêu trong bài viết của mình, phái đoàn cố vấn chính trị Trung Quốc do La Quý Ba đứng đầu đã giúp Việt Nam điều hành công việc kinh tế tài chính, chỉnh đốn tư tưởng cán bộ và những công việc hành chính khác. Nỗ lực này đảm bảo cho thành công của cuộc chiến.
Tuy nhiên, tinh thần đằng sau tuyên bố hợp tác và ghi nhận giúp đỡ trong cuộc chiến Đông Dương bây giờ đã đổi khác. Việt Nam đã xung đột nghiêm trọng với Trung Quốc. Hà Nội cho rằng sau chiến thắng Điện Biên Phủ nhân Việt Nam có đủ khả năng giải phóng toàn bộ đất nước nhưng Trung Quốc đã ngăn cản Việt Nam thực hiện điều đó. Hà Nội cũng cáo buộc Trung Quốc đã có lập trường khác hoàn toàn so với Việt Nam và giải pháp Geneva là kết quả của sự thông đồng giữa Trung Quốc và thực dân Pháp và sau đó đem áp đặt cho Việt Nam. Cuối cùng, lần đầu tiên Hà Nội cho rằng lãnh đạo Trung Quốc đã phản bội cách mạng Đông Dương.
Dĩ nhiên Bắc Kinh phủ nhận những cáo buộc này. Năm 1979, Hoàng Văn Hoan mạnh mẽ bảo vệ lập trường của Trung Quốc. Hoàng Văn Hoan, phát ngôn viên của Việt Minh tại Geneva, đã bác bỏ cáo buộc của Hà Nội từng điểm một. Ông lập luận rằng tại Geneva, Trung Quốc duy trì lập trường tương tự như Việt Nam và Liên Xô và đã có được sự chấp thuận của Hồ Chí Minh trong hầu hết những vấn đề quan trọng. Hoàng Văn Hoan cũng nhạo báng cáo buộc của Lê Duẩn đối với Trung Quốc là một sự ngu xuẩn, vì nếu cáo buộc của Lê Duẩn là đúng thì phái đoàn Việt Nam và Liên Xô chỉ là bù nhìn của Trung Quốc.
Có hai điểm cần phải bàn ở đây. Thứ nhất, một điều không còn bí mật nữa đó là phe phái do Võ Nguyên Giáp đứng đầu trong Việt Minh muốn hoàn thành giải phóng Việt Nam bằng quân sự ngay sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Được thúc đẩy từ chiến thắng lịch sử này, những người ủng hộ muốn tiếp tục cuộc chiến nhưng không cách gì để đo lường khả năng chiến thắng, họ cũng không nắm rỏ được xu thế của tình hình quốc tế.
Thứ hai, bằng việc vu cáo Trung Quốc thông đồng với thực dân Pháp, Hà Nội đã hoàn toàn ngược đãi hoặc bóp méo xu thế hòa bình thế giới. Trong nguyên cứu của tôi về tình hình hoà bình quốc tế giai đoạn 1953-1954, những phát hiện của tôi cho thấy chính Liên Xô và CHND Trung Hoa vì sự cần thiết trong nước và quốc tế đã tích cực thúc đẩy hòa bình thế giới. Điều này xảy ra ngay sau khi Stalin qua đời (tháng 3 năm 1953) và phát triển thành một lực lượng không thể chống lại tại Hội nghị Geneva. Nếu Trung Quốc bị quy trách nhiệm thông đồng với Pháp tại Geneva thì Liên Xô cũng được cho là thông đồng với Trung Quốc trong việc thúc đẩy giải quyết hòa bình Đông Dương. Tuy nhiên, Hà Nội không lên tiếng về Maxtcova.
Thực chất vấn đề đó là sự hợp tác hay xung đột lợi ích giữa Việt Nam và Trung Quốc.Trước trận Điện Biên Phủ, khi Trung Quốc ủng hộ mạnh mẽ Việt Nam chống thực dân Pháp, hai bên nước đã toàn tâm toàn ý hợp tác. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, cả Trung Quốc và Liên Xô đều thúc đẩy hòa bình quốc tế vì lợi ích quốc gia của mình, trong khi Việt Minh vẫn quan tâm nhiều đến giải phóng toàn bộ đất nước. Khi lợi ích hai bên khác nhau thì bất đồng nảy sinh.
Chiến tranh Việt Nam,1965-1975
Trong số những nguyên dân dẫn đến leo thang Chiến tranh Việt Nam thì chính sách ngăn chặn của Washington và quyết tâm với nhiệm vụ thiên liêng giải phóng miền nam Việt Nam của Hà Nội đóng vai trò nền tảng quyết định cuộc chiến như là một cuộc xung đột không thể tránh khỏi giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Cả hai nước dường như không thể và không muốn đảo ngược xu hướng không thể tránh khỏi này, đặc biệt là Hoa Kỳ. Tuy nhiên, Hoa Kỳ không chính thức tham chiến cho đến khi sự kiện Vịnh Bắc Bộ xảy ra vào đầu tháng 8 năm 1964 bất kể đó chỉ là cuộc đụng độ đôi khi vẫn xảy ra giữa Việt Cộng và quân Hoa Kỳ.
Ngay sau khi sự kiện này xảy ra, Hoa Kỳ càng leo thang hơn nửa trong cuộc chiến. Trung Quốc gửi một phi đội MIG-15 và MIG-17 đến Hà Nội và bắt đầu xây dựng thêm hai sân bay tại Vân Nam và Quảng Tây để máy bay Hà Nội ẩn náu. Tại thời điểm này, tầm quan trọng trong cuộc chiến với Hoa Kỳ của Hà Nội và chính quyền Sài Gòn xảy ra cùng lúc với Bắc Kinh. Mao Trạch Đông quyết định duy trì Hà Nội đi theo cuộc chiến trong khi Nikita Khrushchev bỏ qua Hồ Chí Minh. Mối quan hệ quân sự hữu nghị giữa Việt Nam và Trung Quốc còn nồng ấm và tinh thần chống Mỹ lên cao.
Sau khi Khrushchev rời bỏ quyền lực vào tháng 10 năm 1964, Liên Xô lại nêu lên lập trường tại Đông Dương. Tuy nhiên, việc Hoa Kỳ ném bom Bắc Việt tháng 2 năm 1965 và chuyến viếng thăm của Thủ tướng Liên Xô Kosygin đến Hà Nội đã làm thay đổi chính sách của Liên Xô với Việt Nam. Cho dù Liên Xô vẫn muốn duy trì tình trạng bớt căng thẳng với Hoa Kỳ và hy vọng chấm dứt leo thang chiến tranh tại bàn đàm phán, lãnh đạo Liên Xô vẫn muốn hỗ trợ Việt Nam nhiều hơn. Song song với đó, Matxcova chịu áp lực của Việt Nam và Trung Quốc phải theo chuyến tuyến quân sự chống Hoa Kỳ.
Ngay sau khi Kosygin trở về nước, Maxtcova đã đưa ra đề xuất hành động thống nhất về Việt Nam gửi đến Trung Quốc. Đề xuất này gồm: (1) quyền quá cảnh vũ khí Liên Xô qua lãnh thổ Trung Quốc; (2) Xô Viết sử dụng một hoặc hai sân bay tại Vân Nam và được quyền đóng khoảng 500 quân tại những căn cứ này; (3) thiết lập một hành lang bay cho Liên Xô bay qua lãnh thổ Trung Quốc; (4) cho phép 4.000 chuyên viên quân sự Liên Xô được qua lãnh thổ Trung Quốc trên đường đến Việt Nam; và (5) đàm phán 3 bên gồm Liên Xô, Việt Nam và Trung Quốc để thỏa luận chi tiết về đề xuất và những vấn đề trong tương lai. Phạm Văn Đồng ủng hộ đề xuất này. Ngoại trừ việc quá cảnh vũ khí qua Trung Quốc, Bắc Kinh chính thức từ chối tất cả những đề xuất còn lại vào tháng 11 năm 1965. Lý do rõ ràng là Mao Trạch Đông muốn tiếp tục chính sách chống Liên Xô và không muốn nhìn thấy chủ quyền Trung Quốc bị xâm phạm.
Rõ ràng sự khước từ của Bắc Kinh là trực tiếp chống lại Maxtcova chứ không phải Hà Nội, nhưng chính Hà Nội mới là phía phải chịu thiệt hại. Tuy nhiên sau khi bị từ chối, kế hoạch thống nhất vẫn chưa bị hủy bỏ. Maxtcova tiếp tục đưa ra những đề xuất tương tự và một phái đoàn cộng sản Nhật cũng cố thuyết phục Bắc Kinh hợp tác với Maxtcova. Mao Trạch Đông kiên quyết từ chối. Sự không khoan nhượng của Bắc Kinh làm Hà Nội gia tăng oán hận với Trung Quốc.
Trong hoàn cảnh này, Bắc Kinh phải đề ra chính sách mới với Việt Nam. Cuối năm 1965, Trung Quốc đã định hình chính sách cho cuộc chiến. Chính sách này chứa đựng những điểm chính như sau: (1) tăn cường viện trợ kinh tế và quân sự, khuyến khích chiến tranh nhân dân dựa trên cơ sở tự lực. Mức viện trợ trung bình khoảng 200 triệu đô la Mỹ một năm với một lượng lớn nhân lực về phòng không, công binh, xây dựng cầu, đường sắt và hậu cần. Từ 1965 đến 1971, tổng cộng 320.000 quân đã được gửi sang Việt Nam, trung bình từ 50.000 đến 60.000 quân một năm; (2) không để xảy ra chiến tranh Trung-Mỹ vì Việt Nam; Trung Quốc sẽ không tấn công trừ khi bị tấn công. (3) từ chối đề xuất của Liên Xô trừ việc cho phép quá cảnh để vận chuyển vũ khí đến Việt Nam. (4) Không đàm phán hòa bình với Hoa Kỳ, cố vấn để Hà Nội đấu tranh đến thắng lợi cuối cùng. (5) điều kiện để can thiệp: Nếu Hoa Kỳ đẩy chiến tranh trên bộ đến Bắc Việt và tạo ra mối đe dọa trực tiếp đến an ninh Trung Quốc, Trung Quốc sẽ đáp lời đề nghị can thiệp của Hà Nội.
Tại thời điểm khi Bắc Kinh đưa ra chính sách này thì có hai diễn biến quan trọng xảy ra đó là cuộc Cách mạng Văn hóa Trung Quốc và sự gia tăng can dự của Liên Xô vào Việt Nam. Hai diễn biến này có ý nghĩa lớn đối với cuộc chiến.
Cách mạng Văn hóa Trung Quốc bắt đầu vào tháng 11 năm 1965 và kéo dài trong một thập kỷ. Vấn đề quan trọng đặt ra là liệu có mối quan hệ nào giữa Cách mạng Văn hóa và Chiến tranh Việt Nam? Câu trả lời là Mao Trạch Đông đã cân nhắc và chuẩn bị gần 10 năm trời trước khi đưa ra chiến dịch chống khuynh hướng tư bản và chủ nghĩa xét lại tại Trung Quốc và Chiến tranh Việt Nam đã xảy ra vào thời điểm đó. Kết quả là sự kiện trước đã có tác động lớn đến sự kiện xảy ra sau.
Để hoàn thành nghĩa vụ quốc tế với Việt Nam, lãnh đạo Bắc Kinh đã hình thành chính sách với cuộc chiến như đã đề cập, trước khi bắt đầu Cách mạng Văn hóa. Mao là một chính trị gia có đầu óc thực tế. Do đó, ông ta cương quyết đặt ra giới hạn viện trợ cho Việt Nam và quyết liệt thúc đẩy xu hướng chống Liên Xô. Mao Trạch Đông đã gửi một thông điệp rõ ràng cho Việt Nam vào tháng 9 năm 1965 thông qua bài viết của Lâm Bưu “Thắng lợi của chiến tranh nhân dân muôn năm”, rằng “cách mạng hay chiến tranh nhân dân tại bất kỳ quốc gia nào đều là công việc của quần chúng nhân dân quốc gia đó và phải được tiến hành chủ yếu bằng chính nổ lực của nước đó; không có con đường nào khác”. Trong lúc đó, Mao lập lại việc bác bỏ đề xuất của Liên Xô. Mao làm như thế vì ông ta không muốn nhìn thấy một cuốc chiến tranh Triều Tiên lần hai với Hoa Kỳ, mà với điều đó thì không bên nào thật sự có lợi trừ Liên Xô.
Nói ngắn gọn, Cách mạng Văn hóa là cuộc đấu tranh lớn nhất trong nội bộ Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) kể từ khi thành lập năm 1921. Cuộc cách mạng đã phí phạm cả một thập kỷ xây dựng đất nước. Vì sự phá hoại và tàn phá, lãnh đạo Trung Quốc chỉ còn chú tâm đến những khó khăn trong nước. Họ dần dần giảm sự chú ý đến cuộc chiến tại Việt Nam. Tuy nhiên, việc vận chuyển vũ khí của Liên Xô qua Quảng Đông đã bị gián đoạn nhiều lần dù Thông tấn xã Việt Nam, dưới sự cho phép của chính phủ, đã phủ nhận điều này vào ngày 19 tháng 6 năm 1966. Tuy nhiên, tác giả đã tìm ra bằng chứng xác đáng cho thấy hai phe cánh kình địch của Hồng Vệ Binh tại Quảng Đông đã chặn tuyến xe lửa Việt Nam tại Liễu Châu trong vòng ít nhất 2 tháng (từ tháng 6 đến tháng 7 năm 1968) và đã cướp quân dụng trên xe lửa. Ngay lập tức Chu Ân Lai và những lãnh đạo khác của Bắc Kinh đã gửi điện khẩn và gọi điện chỉ thị ngay lặp tức phải vãn hồi trật tự. Khi những người này không tuân lệnh, Chu Ân Lai và những viên chức Cách mạng Văn hóa khác đã gọi lãnh đạo Hồng Vệ Binh của phe cánh đối địch tại Quảng Đông đến Bắc Kinh và khiển trách nặng nề.
Tóm lại, Cách mạng Vănn hóa đã hạn chế trợ giúp của Trung Quốc cho Việt Nam trong khi Liên Xô tăng cường viện trợ lên đáng kể. Cuộc cách mạng cũng hủy hoại nặng nề mối quan hệ chung giữa Việt Nam và Trung Quốc. Sự gia tăng viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam không chỉ gắp đôi, gắp ba viện trợ của Trung Quốc mà còn bao gồn cả những vũ khí hiện đại như xe tăng và chiến đấu cơ. Quan trọng hơn, Matxcova đã từng bước gia tăng thái độ với Hoa Kỳ về Việt Nam.
Đầu năm 1967, chính sách của Hà Nội dần dần độc lập hơn khỏi Trung Quốc. Hà Nội lập lại việc đưa ra tín hiệu đàm phán hòa bình vào năm 1967 và 1968. Vì thế, Tổng thống Johnson đã đề xuất đàm phán hòa bình vào ngày 31 tháng 3 năm 1968 sau Tổng tiến công Mậu Thân. Đề xuất này được chấp thuận vào ngày 3 tháng 4. Bắc Kinh xem đây là một động thái bất thường mà Hà Nội tiến hành sau lưng Trung Quốc. Sau đó, Trung Quốc không bình luận gì về hội đàm Paris trong vòng 7 tháng. Ngược lại, Bắc Kinh lên án việc Liên Xô xâm lược Czech-Slovakia như là hành động của chủ nghĩa đế quốc. Phát ngôn viên của Hà Nội tại Paris đã xác nhận điều này. Năm 1969, rõ ràng Trung Quốc đã tổn thất tại Việt Nam trong khi Liên Xô đạt được lợi ích.
Cuộc xung đột biên giới tháng 3 năm 1969 và việc Mỹ bắt đầu rút quân khỏi Việt Nam vào giữa năm 1969 làm cho Mao Trạch Đông tin rằng kẻ thù tiềm ẩn của Trung Quốc bây giờ đã chuyển từ phía nam lên phía bắc Trung Quốc. Hồ Chí Minh qua đời tháng 9 năm 1969 là cơ hội để Bắc Kinh hâm nóng lại mối quan hệ nguội lạnh với Việt Nam. Chu Ân Lai bay đến Hà Nội để bày tỏ lòng tôn kính cuối cùng với Hồ Chí Minh. Phạm Văn Đồng, người có quan điểm ôn hòa trong quan hệ Việt-Trung, đã có chuyến viếng thăm đáp lễ vào tháng 10 năm đó. Cuộc khủng hoảng Campuchia đầu năm 1970 là một cơ hội khác để Trung Quốc hợp tác với Việt Nam, Lào và Campuchia. Hà Nội rất quan ngại việc Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn xâm lược Lào từ tháng 2 đến tháng 3 năm 1971 và đã mời Chu Ân Lai sang thăm từ ngày 5 đến ngày 8 tháng 3. Trong tuyên bố chung, Phạm Văn Đồng và Chu Ân Lai một lần nửa sử dụng ngôn từ mạnh mẽ để cảnh báo Hoa Kỳ, điều này đã vắng bóng 8 năm nay trong những tài liệu công bố về mối quan hệ Trung-Việt. Bản tuyên bố cho rằng nếu Hoa Kỳ mở rộng chiến tranh tại Đông Dương, Trung Quốc sẽ thực hiện tất cả những biện pháp cần thiết để ủng hộ nhân dân Đông Dương, “không hề do dự thậm chí có phải hy sinh lớn nhất quyền lợi quốc gia ”.
Trong diễn biến đó, việc Trung Quốc mời Nixon sang thăm viếng tất nhiên là một cú sốc đối với Hà Nội. Giữa chuyến viếng thăm Trung Quốc của Henry Kissinger tháng 7 năm 1971 và chuyến viếng thăm của Nixon tháng 2 năm 1972, Chu Ân Lai đã bay đến Hà Nội hai lần để giải thích. Nhưng lý do Chu Ân Lai đến Hà Nội không phải để thuyết phục giới lãnh đạo Việt Nam. Ngay sau khi Nixon trở về Hoa Kỳ đầu tháng 3 năm 1972, Hà Nội tuyên bố Hoa Kỳ là “kẻ thù số 1 của tất cả các nước trên thế giới”. Thậm chí sau khi Liên Xô mời Nixon sang thăm viếng cấp nhà nước vào tháng 5 năm 1972 sau khi Hoa Kỳ đánh bom Hà Nội, cũng không làm thay đổi thái độ của Hà Nội với Matxcova. Việt Nam bày tỏ sự gay gắt với Trung Quốc mạnh hơn so với Liên Xô.
Cuối năm 1972, quân Hoa Kỳ giảm xuống nhanh chóng bằng việc rút từ 543.000 quân năm 1969 xuống còn 24.200 quân. Thương vong cũng giảm xuống từ mức trung bình 181 người một tuần năm 1969 xuống khoảng 6 người một tuần năm 1972. Dù trách nhiệm chiến đấu và thiệt hại nhân mạng của Nam Việt Nam gia tăng, nhưng tình hình chiến sự đã giảm. Tháng 1 năm 1973, chiến dịch ném bom dịp giáng sinh của Hoa Kỳ buộc Hà Nội phải ký hiệp định hòa bình Paris. Trung Quốc tán dương điều này. Bắc Kinh cho rằng bản hiệp định sẽ có “ảnh hưởng tích cực đến việc giảm tình trạng căng thẳng tại Châu Á và trên thế giới”. Hà Nội lại không thích điều này. Mặt khác, viện trợ quân sự của Liên Xô gồm những vũ khí hiện đại đặc biệt là tên lửa không đối đất đã bắn hạ ít nhất 50 máy bay B-52 trong kỳ ném bom giáng sinh đã làm cho Hà Nội rất phấn khích.
Không giống như những nổ lực cho hiệp định Geneva 1954, Trung Quốc không đóng góp gì nhiều trong việc ký kết hiệp định hòa bình Paris về Việt Nam năm 1973. Sau khi ký kết hiệp định, chiến tranh giảm bớt. 50.000 chuyên viên quân sự Trung Quốc cũng rút khỏi Việt Nam. Hà Nội sử dụng thời hạn hòa bình chiến thuật này để tăng cường vị thế chính trị và quân sự tại nam Việt Nam. Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Nguyễn Thị Bình và nhiều lãnh đạo Việt Nam khác đã đến Trung Quốc gặp Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai để tham vấn. Do có mối đe dọa Liên Xô, lãnh đạo Trung Quốc thay đổi mạnh mẽ lập trường thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị Trung-Mỹ và cố vấn cho những đồng chí Việt Nam tận dụng thời gian và chuẩn bị cho thắng lợi cuối cùng. Ví dụ, Mao Trạch Đông đã nói với Lê Duẩn rằng việc giải phóng Nam Việt Nam cần phải được tiến hành theo hai bước. Bước đầu tiên là buộc Hoa Kỳ rút quân, bước thứ hai là phải “giải quyết” vấn đề quân đội của Nguyễn Văn Thiệu “bằng chiến tranh”. Chu Ânn Lai truyền đạt kinh nghiệm Trung Quốc cho Việt Nam: giai đoạn 1945-1947 ĐCSTQ đàm phán với Trung Hoa Dân Quốc; nhưng đến giữa năm 1947 Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc bắt đầu phản công và không hề do dự loại trừ quân Trung Hoa Dân Quốc. ‘Việt Nam cũng vậy” Chu Ân Lai nói “nên tận dụng thời gian để chuẩn bị và không chần chừ loại bỏ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu”. Có vẻ như điều mà lãnh đạo Trung Quốc đề xuất là hãy đợt đến khi có thời cơ thích hợp để tấn công. Việt Nam muốn nhanh chóng giành thắng lợi cuối cùng. Sự khác biệt chính bây giờ không phải là mục tiêu giải phóng mà là vấn đề thời gian.
Một số diễn biến mới đã diễn ra tại Hoa Kỳ, ngoài tâm lý phản chiến gây bất lợi cho Nam Việt Nam. Tháng 11 năm 1973, Quốc hội thông qua Đạo luật Quyền hạn Chiến tranh. Đạo luật yêu cầu tổng thống phải thông báo cho Quốc hội trong vòng 48 giờ khi triển khai quân đội Mỹ ra nước ngoài và buộc tổng thống phải rút quân về nước trong vòng 60 ngày nếu không được quốc hội chấp thuận. Đây là một giới hạn trực tiếp đến thẩm quyền của tổng thống tại Việt Nam. Tháng 8 năm 1974, Nixon bị buộc phải từ chức do vụ bê bối Watergate. Tháng 9 năm đó, Quốc hội cắt giảm mạnh viện trợ quân sự cho Nam Việt Nam từ mứic đề xuất 1,5 tỷ đô la Mỹ xuống còn 700 triệu đô la Mỹ gồm cả chi phí vận chuyển. Những chuyển biến này được truyền thông Hoa Kỳ loan tải rộng rải trên thế giới.
Giới lãnh đạo Việt Nam đã lưu ý đến những sự kiện này. Giữa tháng 12 năm 1974, Hà Nội sử dụng 8.000 quân tấn công 2.000 quân bảo vệ Phước Long và đã chiếm toàn bộ tỉnh này trong vòng 3 tuần. Sau đó ngày 10 tháng 2 năm 1975, quân đội Bắc Việt dưới sự chỉ huy của Tướng Văn Tiến Dũng tấn công dữ dội Ban Mê Thuột , một thành phố quan trọng tại cao nguyên. Quân Bắc Việt chiếm Ban Mê Thuột một ngày sau đó. Hôm sau, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và những tướng lĩnh của mình đã đưa ra một quyết định mạnh mẽ và gây ngạc nhiên là rút quân phòng thủ khỏi Pleiku, Kontum và Dack Lak (tất cả đều là những tỉnh cao nguyên) xuống khu vực ven biển Nha Trang. Lãnh đạo Hà Nội nhận ra sự yếu kém trầm trọng của quân lực Sài Gòn và nhanh chóng đưa ra quyết định tổng phản công đánh chiếm Sài Gòn. Như tướng Võ Nguyên Giáp và Văn Tiến Dũng đã viết sau này, Hà Nội kết luận rằng thậm chí nếu Hoa Kỳ có đáp trả lại những đợt tấn công bằng không quân và hải quân, họ cũng không thể “cứu chính quyền Sài Gòn khỏi sự sụp đổ thảm hại”. Ngày 30 tháng 4, Sài Gòn sụp đổ. Chiến thuật tháo lui của Hoa Kỳ làm Mao Trạch Đông ngạc nhiên. Có vẻ như chiến thắng nhanh chóng và toàn diện của Hà Nội làm Bắc Kinh thấy bất ngờ.
Những thỏa luận trên đây rõ ràng cho thấy đã có một số bất đồng giữa Việt Nam và Trung Quốc trong thời kỳ chiến tranh trong khi Trung Quốc vẫn tiếp tục hổ trợ Việt Nam. Bây giờ, Hà Nội cáo buộc Trung Quốc đã có hành vi sai trái trầm trọng chống lại Việt Nam. Hà Nội kết tội Trung Quốc ép buộc Việt Nam phải chấp thuận chính sách kéo dài thời gian chuẩn bị nhằm ngăn chặn Việt Nam tăng cường đấu tranh vũ trang tại miền nam, và bật đèn xanh để Hoa Kỳ xâm lược Việt Nam. Hà Nội cũng cáo buộc Trung Quốc phá hoại đề xuất của Liên Xô, chống đối Việt Nam đàm phán với Hoa Kỳ và ngăn Hà Nội giải phóng hoàn toàn Nam Việt Nam. Hà Nội cũng quy kết Trung Quốc đã đàm phán với Hoa Kỳ sau lưng Việt Nam. Hà Nội một lần nửa kết luận điều này cho thấy lãnh đạo Trung Quốc đã phản bội Việt Nam.
Bắc Kinh đã bác bỏ những cáo buộc của Hà Nội. Bắc Kinh cho rằng từ 1950 đến 1975 Trung Quốc đã viện trợ cho Việt Nam trên 20 tỷ đô la Mỹ. Trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam, Trung Quốc đã gửi hơn 300.000 chuyên viên quân sự sang Việt Nam theo nhiệm vụ luân phiên (cao nhất là 170.000 quân một năm), trong đó 1.000 quân đã thiệt mạng. Trung Quốc cũng tự bào chữa rằng từ đầu đến cuối Bắc Kinh ủng hộ việc giải phóng hoàn toàn Nam Việt Nam. Cuối cùng, Trung Quốc cáo buộc ngược lại rằng lãnh đạo Việt Nam vô ơn và đã phản bội quan hệ hữu nghị Việt-Trung.
Xem xét sự giúp đỡ của Trung Quốc cho cách mạng Việt Nam từ 1950 đến 1975 cho thấy Trung Quốc đóng góp nhiều hơn những gì mà họ lấy được từ Việt Nam về khía cạnh viện trợ kinh tế, quân sự cũng như nhân sự. Tuy nhiên, việc ủng hộ giải phóng hoàn toàn Việt Nam theo kế hoạch hai bước của Bắc Kinh. Vấn đề đã bị cường điệu vì hai bên quyết liệt cáo buộc lẫn nhau. Thực ra, xung đột giữa Hà Nội và Bắc Kinh 1978-1979 gần như khác biệt hoàn toàn với thái độ nồng ấm và tán dương của Phạm Văn Đồng với Trung Quốc hồi năm 1954.
Về khía cạnh lịch sử, tranh cãi của Việt Nam về sự giúp đỡ của Trung Quốc thật sự chưa bao giờ xảy ra. Cách ứng xử kịch liệt của tranh cải này chỉ có thể được so sánh với tranh luận của Trung Quốc với Liên Xô vào những năm 1960. Cũng tương tự như tranh chấp Liên Xô-Trung Quốc, một điều rõ ràng là xung đột lợi ích giữa Việt Nam và Trung Quốc đã bị thổi phồng lên bởi hệ tư tưởng gắn chặt của hai bên là chủ nghĩa Mác-Lenin.
Can dự của Liên Xô
Nhìn chung, những nhà phân tích chính sách đối ngoại Liên Xô có chung quan điểm rằng về truyền thống Liên Xô không có lợi ích sống còn tại Đông Nam Á nếu so với những lợi ích tại Châu Âu. Dù Leonid Brezhnev nhấn mạnh Liên bang Xô Viết không chỉ là một nước Âu Châu mà còn là một cường quốc Châu Á. Matxcova luôn luôn xem lợi ích ở Âu Châu là ưu tiên hàng đầu, đặc biệt là tại Đông Âu sau đó mới đến Châu Á. Lợi ích của Liên Xô tại Đông Dương có thể xếp một cách linh động vào vị trí thứ ba hoặc thứ tư. Tuy nhiên, phạm vi quan điểm này đã thay đổi đáng kể từ khi xảy ra Chiến tranh Việt Nam. Có ít nhất hai nguyên nhân chính dẫn đến sự thay đổi này đó là sự cạnh tranh của Liên Xô với Hoa Kỳ và sự kình địch với Trung Quốc. Như một chuyên gia đã chỉ ra, cách ứng xữ quốc tế trước đây của Liên Xô không phải lúc nào cũng là chỉ dẫn đáng tin cậy về hành động trong tương lai.
Việc Liên Xô cạnh tranh với Hoa Kỳ làm cho Matxcova vừa phải căng thẳng trong chi tiêu vừa phải tham gia vào cuộc chạy đua vũ trang. Để chống lại ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại Châu Á, Liên Xô tăng cường quan hệ với một số nước Á Châu bằng các hiệp ước cam kết. Những hiệp ước này gồm hiệp ước với Ấn Độ (1971), Iraq (1972), Afghanistan (1978), Việt Nam (1978) Nam Yemen (1979) và Syria (1980). Việc Việt Nam liên minh với Liên Xô là phù hợp với chiến lược toàn cầu chống Hoa Kỳ và Trung Quốc.
Lợi ích của Liên Xô tại Đông Dương
Xung đột Trung-Xô buộc lãnh đạo Liên Xô phải tiến hành bao vay Trung Quốc. Để thực hiện điều này, Maxtcova đã viện trợ về vật chất, thắt chặt ý thức hệ với những đồng chí tại Châu Á và đề xuất hệ thống phòng thủ chung cho những nước cộng sản và phi cộng sản ở Châu Á. Ngay sau khi Leonid Brezhnev đê ra đề xuất này vào tháng 6 năm 1969, hầu hết những nhà phân tích về Châu Á và Liên Xô cho rằng kế hoạch này nhằm bao vay Trung Quốc và làm suy yếu ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại Châu Á. Liên Xô nhắc lại tuyên bố và lập luận rằng hệ thống, vốn sẽ bao quát tất cả các quốc gia từ Trung Đông cho đến Nhật Bản, là vì an ninh, hòa bình, hữu nghị và hạnh phúc của nhân dân Châu Á. Liên Xô cũng hy vọng Ấn Độ, Pakistan và Afghanistan, bắt đầu bằng hợp tác kinh tế, sẽ trở thành trung tâm của hệ thống. Trung Quốc phản ứng với hệ thống này bằng sự coi thường. Như cựu Bộ trưởng Ngoại giao Chiao Guanhua nhận xét: “Thứ nhất, chúng tôi phản đối hệ thống này, thứ hai chúng tôi coi thường nó”52. Bất kể thế nào, chiến dịch quân sự của Liên Xô tại Afghanistan cũng đã gây tổn hại nghiêm trọng đến kế hoạch vốn đã bị nghi ngờ là nhằm chống lại Trung Quốc và Hoa Kỳ.
Do đó, rõ ràng những mục tiêu chung trong chính sách hiện tại của Liên Xô ở Châu Á là (1) thay thế hiện diện và ảnh hưởng của Hoa Kỳ và Trung Quốc, (2) ủng hộ chủ nghĩa cộng sản bất cứ khi nào có thể, (3) sử dụng được những cảng chiến lược để tăng cường vị thế hải quân đi từ Vladivostok đến Ấn Độ Dương và (4) kiểm soát càng nhiều quốc gia và khu vực càng tốt. Các mục tiêu cụ thể của Liên Xô tại Đông Dương có thể được tóm tắt bằng những điểm sau (1) loại trừ ảnh hưởng của Trung Quốc (và Hoa Kỳ) trong khu vực; (2) sử dụng Vịnh Cam Ranh và những cảng chiến lược khác; (3) ủng hộ và gây ảnh hưởng lên những đảng phái cộng sản và chính phủ ở Đông Dương; và (4) tạo ra những nhà nước Đông Dương phụ thuộc vào Liên Xô (đặc biệt là Việt Nam) bằng việc hòa phóng giúp đỡ kinh tế và xây dựng quân đội(5)
Thực hiện theo những nguyên tắc này, Liên Xô đã đạt được thành công đáng kể tại Đông Dương mà Việt Nam là trường hợp nổi bật nhất.
[…] Vietnam, 1979”, của King C. Chen: Chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979 – Chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979: phần 2 – Chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979: phần 2 (tiếp theo) – Chiến tranh […]
By: 730. Báo Trung Quốc: Vai trò của Liên Xô trong cuộc chiến biên giới Việt – Trung | phamdinhtan on 16/02/2012
at 7:58 sáng
[…] Vietnam, 1979”, của King C. Chen: Chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979 – Chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979: phần 2 – Chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979: phần 2 (tiếp theo) – Chiến tranh […]
By: Tổng hợp tin tức 16.12.2012 | Dahanhkhach's Blog on 16/02/2012
at 11:23 sáng
[…] War with Vietnam, 1979”, của King C. Chen: Chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979 – Chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979: phần 2 – Chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979: phần 2 (tiếp theo) – Chiến tranh biên […]
By: BÁO TRUNG QUỐC : VAI TRÒ CỦA LIÊN XÔ TRONG CUỘC CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI VIỆT – TRUN G (Triệu Cấp Báo, Mạng Sina) « Ngoclinhvugia's Blog on 16/02/2012
at 11:59 sáng
[…] War with Vietnam, 1979”, của King C. Chen: Chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979 – Chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979: phần 2 – Chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979: phần 2 (tiếp theo) – Chiến tranh biên […]
By: Báo Trung Quốc: Vai trò của Liên Xô trong cuộc chiến biên giới Việt – Trung | ixij on 16/02/2012
at 3:16 chiều
[…] Vietnam, 1979”, của King C. Chen: Chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979 – Chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979: phần 2 – Chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979: phần 2 (tiếp theo) – Chiến tranh […]
By: TIN TỔNG HỢP NGÀY 17/2/2012 | Dahanhkhach's Blog on 18/02/2012
at 10:49 sáng