Đăng bởi: nguyenyenson | 19/05/2010

“Tiền và lá” của ai? Và đôi điều về nhà thơ Kiên Giang.

Hôm trước sang nhà Bùi Cao Nguyên (http://caonguyenbui.multiply.com/journal/item/453/453?replies_read=7) đọc bài thơ “Tiền và lá”, trong đó có mấy câu

“Tiền không là lá em ơi!
Tiền là giấy bạc của đời in ra.
Người ta giấy bạc đầy nhà,
Cho nên mới được gọi là chồng em.”

Đọc xong cứ phân vân mãi, vì hơi thơ nghe quen lắm, nhưng không chắc là của nhà thơ Kiên Giang; do bởi bài thơ nổi tiếng của KG là bài “Hoa trắng thôi cài lên áo tím” có giọng thơ khác hẳn

“Lạy Chúa con là người ngoại đạo
Nhưng tin có Chúa ở trên cao
Trong lòng còn giữ màu hoa trắng
Cứu rỗi linh hồn con, Chúa ơi !”

Bài thơ “tiền và lá” lại sực nức mùi hương Nguyễn Bính! Thía là cái ấm ức này cứ vương vấn theo tôi mấy hôm nay (không biết vương vấn bởi bài thơ hay vì…cô giáo?)

Sáng nay, vừa khuấy ly cafe vừa lục tìm trong đống sách củ, vừa moi móc trong “tàng thư in-tẹc-néc”, tôi quyết tìm cho ra lẽ…

Khi search trên google với từ khóa “tiền và lá” và “nguyễn bính” hay “kiên giang”, thu được kết quả gần tương đương nhau:

Kết quả 110 trong khoảng 474 cho “tiền và lá”,”kiên giang”. (0,32 giây)

Kết quả 110 trong khoảng 331 cho “tiền và lá”,”nguyễn bính”. (0,48 giây)

Vào các thư viện lưu trử thơ, như bên Thi Viện, nhận được cả 2 tác giả đều có bài thơ mang tên “Tiền và lá”.

Trang lưu thơ của Nguyễn Bính cũng có bài này và ghi tên tác giả cho ông.

Tiền và lá (Nguyễn Bính)

Tuổi thơ tóc để gáo dừa
Tuổi thơ mẹ bắt đeo bùa cầu ông
Hai ta cùng học vỡ lòng
Dắt tay nhau giữa cánh đồng cỏ xanh
Hai nhà chung một mái tranh
Chia vui từng trái ngọt lành có nhau
Đêm cùng đón ánh trăng cao
Ngồi bên giếng ngọc đếm sao trên giời
Em moi đất nặn hình người
Anh thơ thẩn nhặt lá rơi làm tiền
Mỗi ngày chợ họp mười phiên
Em magn ngồi bán lấy tiền lá rơi
Tiền là giấy bạc em ơi
Tiền là giấy bạc của đời làm ra
Người ta giấy bạc đầy nhà
Cho nên mới được gọi là chồng em!
Bây giờ mỗi buổi chiều lên
Tôi gom lá đốt, khói lên ngút giời…
Người ta đã bị mua rồi
Chợ đời ngồi họp, mình tôi mua gì ?
Nguồn: http://www.cinet.gov.vn/vanhoa/Vanhoc/vh%2Dvietnam/tacgia/20/tho/tacpham/b/thonb/index.htm

Tiền và lá (Kiên Giang)

(Riêng tặng các bạn đã dang dở với
mối tình đầu…
)

Ngày thơ, hớt tóc “miễng rùa”
Ngày thơ, mẹ bắt đeo “bùa cầu ông”.
đôi ta cùng học vỡ lòng,
Dắt tay qua những cánh đồng lúa xanh.
đôi nhà cũng một sắc tranh,
Chia nhau từ một trái chanh, trái đào.
đêm vàng soi bóng trăng cao,
Ngồi bên bờ giếng đếm sao trên trời.
Anh moi đất nắn “tượng người”,
Em thơ thẩn nhặt lá rơi làm tiền.
Mỗi ngày chợ họp mười phiên,
Anh đem “người đất” đổi tiền “lá rơi”.
Nào ngờ mai mỉa cho tôi,
Lớn lên em đã bị người ta mua.

Kiếp tôi là kiếp làm thơ,
Vốn riêng chỉ có muôn mùa lá rơi.
Tiền không là lá em ơi!
Tiền là giấy bạc của đời in ra.
Người ta giấy bạc đầy nhà,
Cho nên mới được gọi là chồng em.

Bây giờ những buổi chiều êm,
Anh gom lá đốt, khói lên tận trời!!!

Người mua đã bị mua rồi,
Chợ lòng họp một mình tôi vui gì!
(1956)

Nguồn: http://www.thivien.net/viewpoem.php?ID=26431

http://vnthuquan.net/tho/tho.aspx?id=488&thisi=Kiên%20Giang

Kho lưu của vnthuquan thì chỉ ghi nhận KG là tác giả bài thơ này, vậy là chắc rồi, vì VNTQ nhà mình xưa nay vốn cẩn thận và ít khi nhầm lẫn mà…

Vậy là mình đi tìm thêm tư liệu về nhà thơ Kiên Giang, và thu được một ít dữ liệu về nhà thơ…

Nhà thơ Kiên Giang

Nhà thơ Kiên Giang là người làm thơ tình chân quê Nam bộ hiếm hoi còn sót lại ở thiên niên kỷ thứ ba nầy. Đọc thơ ông là thấy cả tuổi thơ ấu ở miệt vườn, gánh hát cúng đình, ngọn khói đốt đồng, nghe văng vẳng tiếng xe bò lốc cốc…Có lần ngồi quán cóc ông buột miệng đọc bốn câu ca dao :

Lồng đèn treo cột đáy

Nước xoáy lồng đèn xoay

Dĩa nghiêng múc nước sao đầy

Lòng thương người nghĩa ba má rầy cũng thương

Tôi reo lên: “Hay quá ! Sao không thấy in trong sách ?”. Ông cười, nói nhỏ : “Bà già tao đọc, ngâm nga ru ngủ hồi nhỏ, riết rồi nhập tâm”.

Nhà thơ Kiên Giang sinh ngày 17-2-1929, tên thật là Trương Khương Trinh tại làng Đông Thái, huyện An Biên tỉnh Kiên Giang, cùng quê với nhà văn Sơn Nam. “Vốn liếng về từ ngữ người Kiên Giang rất ít, hàng ngày sống lân la với người Hoa bán tạp hóa và người Khơ-me làm ruộng. Ở đây có thể nói tiếng Việt không phát triển, lại thêm “tiếng lóng” mà người địa phương khác khó chấp nhận. Vốn duy nhất là ca dao được mẹ dạy cho, từ thuở ấu thơ. Vốn quan trọng hơn vẫn là cái tâm, lòng yêu nước, muốn giới thiệu tâm hồn người dân nghèo xóm mình với cả nước, cùng chia sẻ buồn vui

(Sơn Nam – Cùng bạn đọc – Lời tựa tập Hoa trắng thôi cài trên áo tím NXB Văn Học 1/1995).

Ông từng tự bạch : “Năm 1943 tôi học trường tư Lê Bá Cang (Sài Gòn). Ăn cơm tháng, ở nhà trọ trên một ốc đảo đường Hàng Sanh (nay là Bạch Đằng) gần chùa Long Vân.

Khi thức đêm học bài, tôi thấy và nghe hình tượng nhạc xe bò. Đêm nào đoàn xe bò ấy cũng lăn bánh ngang cửa thảo trang. Một thứ nhạc khô khan và thắm thiết, triền miên mà nức nở ngân vang từ những móng sắt vành xe.

Tôi thao thức vì ghiền nghe nhạc xe bò, cố tìm những nét sống đẹp để tô điểm thành thơ. Hình ảnh một chiếc võng giăng dưới dạ xe chở phân rác, bốn móng bò mòn lẵn, chiếc roi tơi tả, ngọn đèn chong leo lét nhất là mái tóc phong trần luôn rối tung chính là những nét sống – trong một nếp sống nghèo mà đẹp – của người mẹ đánh xe bò.

Tất cả là thơ và nhạc. Tôi đã ôm ghì được vú sữa của nguồn hứng cảm nhưng chắc hẳn chỉ ghi lại được một vài góc cạnh mà thôi.

14 năm sau, kể từ năm 1943, khi trở lại xóm chùa Long Vân, tôi không tìm được nhà trọ năm nào. Nhà tường mọc lên, người cũ đi mất, chết hoặc bị xua đuổi. Năm 1993, xóm chùa, xóm Hàng Sanh đã bị xóa mất. Người cũ mất hết. Chiếc xe bò chỉ còn trong ký ức.”

Tình tang ! Lốc cốc ! Tang tình !

Nhạc vang hòa khúc viễn trình đắng cay

(Nhạc xe bò) “.

Bùi Giáng trong quyển “Đi vào cõi thơ” NXB Ca Dao 10/1969 viết : “‘Lành mạnh, thanh cao, vị tha và ái quốc’, ông Thiếu Sơn nói không sai một tấc một ly nào cả, khi giới thiệu thơ Kiên Giang. Ông Kiên Giang tuyệt nhiên “không cầu kỳ, không giả tạo” mà đạt tới chỗ sâu thẳm nhất trong linh hồn mọi người, một cách thuần nhiên.

….Quê Hương Thơ Ấu của Kiên Giang sẽ nằm trong Nước Việt như Kinh Thư nằm trong nước Tàu. Một Quê Hương bình dị thiết tha và hình như chúng ta đang đánh mất. Chỉ kêu gọi về trong những trận chiêm bao”.

Thơ Kiên Giang có nhiều câu phổ biến rộng rãi như :

Ong bầu đậu đọt mù u

Lấy chồng càng sớm tiếng ru càng buồn


Ngày mai đám cưới người ta

Cớ sao sơn nữ Phà Ca lại buồn


Đói lòng ăn nửa trái sim

Uống lưng bát nước đi tìm người thương

Và trong bài thơ “Tiền và lá” ông đề: “Kính tặng thi sĩ Nguyễn Bính để nhớ ngày tá túc ở xóm biển Kiên Giang”, có lúc bị nhầm là thơ Nguyễn Bính. Bài thơ có những câu phảng phất tâm hồn chân quê cảm động :

“Bây giờ những buổi chiều êm

Tôi gom lá đốt, khói lên tận trời

Người mua đã bị mua rồi

Chợ đời họp một mình tôi…vui gì !”.

Kiên Giang còn là soạn giả cải lương lừng danh cùng thời Năm Châu, Viễn Châu, Hà Triều Hoa Phượng, Quy Sắc…với nghệ danh Hà Huy Hà (Áo cưới trước cổng chùa, Người vợ không bao giờ cưới…).

Ngoài ra ông là ký giả kịch trường cho nhiều tờ báo lớn ở Sài Gòn trước 1975 như Tiếng Chuông, Tiếng Dội, Lập Trường, Điện Tín, Tin Sáng…, tham gia phong trào ký giả ăn mày chống Mỹ – Thiệu ngày 10-10-1974.

Chính vở tuồng đầu tay của ông là Người vợ không bao giờ cưới đã tạo bệ phóng cho nghệ sĩ Thanh Nga đoạt giải Thanh Tâm, lên hàng ngôi sao trong giới cải lương.

Ông lang thang rày đây mai đó, vẫn với bộ vó giang hồ, vai mang túi xách, đầu đội chiếc nón trắng ngã mầu, cả đời lận đận với nghiệp thơ.

Sống cuộc sống vất vả, lúc về hưu lui tới thường xuyên Ban Ái hữu Nghệ sĩ số 133 đường Cô Bắc, mở lớp dạy đờn ca tài tử miễn phí cho học sinh trường khiếm thị Nguyễn Đình Chiểu, thật đúng là hình ảnh kẻ sĩ hiếm hoi trong thời buổi kinh tế thị trường.

Nhắc đến thơ Kiên Giang nhiều người nhớ ngay đến bài thơ nổi tiếng là Hoa trắng thôi cài trên áo tím. Chị Hà Khánh Phương cho biết chị còn giữ bài thơ nầy in dưới dạng tờ bướm từ lúc 17 tuổi đến nay trên 40 năm.

Nhạc sĩ Huỳnh Anh (con trai danh cầm Sáu Tửng) phổ nhạc, nhiều thế hệ ca sĩ hát bài này như Thanh Thúy, Hoàng Oanh, Giao Linh, Trường Thanh và Hồ Điệp ngâm nhiều lần trong chương trình tiếng thơ Mây Tần do Kiên Giang phụ trách trên đài phát thanh Sài Gòn.

Kiên Giang cho biết : “Đây là tâm tình người trai ngoại đạo đối với cô gái có đạo. Mối tình học trò tinh khiết, ngây thơ, không nhuốm bụi trần. Năm 1944 tôi ở Cần Thơ học trường tư thục Nam Hưng, dốt toán nhưng giỏi luận chuyên làm bài giùm cho bạn cùng lớp, trong đó có NH. -cô bạn dễ thương thường mặc áo bà ba trắng, quần đen, mang guốc mộc.

Có những buổi tan học lẽo đẽo đi theo sau NH. đến tận nhà cô ở xóm nhà thờ. Cách mạng nổ ra, không có tiền đi đò về quê, NH. biết ý gửi cho, rồi đi kháng chiến, gặp người quen trong đội quân nhạc nhắn:” Con Tám NH. vẫn chờ mày “.

Năm 1955 tôi ghé ngang Cần Thơ, xin phép má của NH. tâm tình suốt đêm bên ánh đèn dầu Huê kỳ.

Sau đó tôi nghe tin NH. lấy chồng có con đầu lòng đặt tên là tên ghép lại của tôi và NH. vì thế chồng cô biết rất ghen tức.

Chính vì lý do nầy tôi đổi bốn câu kết bài thơ này, giống như tống tiễn mối tình học trò trinh trắng.

Kết trước là : “Xe tang đã khuất nẻo đời/ Chuông nhà thờ khóc tiễn người ngàn thu/ Từ nay tóc rũ khăn sô/ Em cài hoa tím trên mồ người xưa” thành cái kết : “Lạy chúa ! Con là người ngoại đạo/ Nhưng tin có chúa ở trên trời/ Trong lòng con, giữa màu hoa trắng/ Cứu rỗi linh hồn con Chúa ơi !”….

Năm 1999 hãng phim TFS Đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh có làm phim ” Chiếc giỏ đời người ” về sự nghiệp hoạt động văn nghệ của tôi, khi trở về Cần Thơ quay lại cảnh trường cũ, mới hay tin là NH. mất năm 1998.

Tôi mua bó huệ trắng, ra thăm mộ NH, ở nghĩa trang Cái Su. Đúng là “Anh kết vòng hoa màu trắng lạnh/ Từng cài trên áo tím ngây thơ/ Hôm nay vẫn đóa hoa màu trắng/ Anh kết tình tang gởi xuống mồ”.

Nguyễn Văn Thức trong tờ bướm “Vài nhận định về thơ và các nhà thơ ở thành phố Hồ Chí Minh” có đoạn nhận xét về Kiên Giang: “Một nhà thơ chỉ còn giao lưu với Câu lạc bộ thơ Quận là chính, Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím nay chỉ còn là kỷ niệm. Đôi khi tôi thấy nhà thơ buồn như sương giá, lạnh quanh đời”.

Tôi nghĩ một nhà thơ 76 tuổi, dời chỗ ở hơn chục lần, đấu tranh vì độc lập đất nước, làm thơ, soạn tuồng cải lương, viết báo tận tụy cống hiến cho đời, để lại nhiều câu thơ hay là một thành công về văn học, là một tâm gương sáng trong cuộc sống hôm nay.

Nhà văn Sơn Nam tinh tế khi viết: “Một cuộc đời lăn lóc, chẳng bao giờ khấm khá, về già làm chuyện ái hữu, tương tế, quả là thành đạt, không xấu hổ với đất nước. Đây là một người bạn cùng xóm, cùng làng, cùng xứ U Minh mà tôi lấy làm tự hào và thật lòng ca ngợi”.

Mới đây ngồi uống bia cùng ông ở quán cóc, trong một xóm lao động nghèo gần cầu Nhị Thiên Đường quận 8, ông bảo sắp bán nhà, giọng buồn buồn nặng trĩu tâm tư. Buổi chiều thành phố thường có những cơn mưa dông, gió giật mạnh, lạnh căm căm, thương Kiên Giang một đời tận tụy với thơ, với cuộc sống!

Và đây là bài thơ tình lãng mạn của nhà thơ. Ôi! Sao ông nào yêu thơ cũng đều đa tình và lãng mạn hết vậy ta?

Hoa trắng thôi cài lên áo tím (Bản gốc)

I.

Lâu quá không về thăm xóm đạo
Từ ngày binh lửa xoá không gian
Khói bom che lấp chân trời cũ
Che cả người thương, nóc giáo đường

Mười năm trước, em còn đi học
Áo tím điểm tô đời nữ sinh
Hoa trắng cài duyên trên áo tím
Em là cô gái tuổi băng trinh

Trường anh ngó mặt giáo đường
Gác chuông thương nhớ lầu chuông
U buồn thay ! Chuông nhạc đạo
Rộn rã thay ! Chuông nhà trường

II.

Lần kia anh ghiền nghe tiếng chuông
Làm thơ sầu mộng dệt tình thương
Để nghe khe khẽ lời em nguyện
Thơ thẩn chờ em trước thánh đường

Mỗi lần tan lễ, chuông ngừng đỗ
Hai bóng cùng đi một lối về
E lệ, em cầu kinh nho nhỏ
Thẹn thùng, anh đứng lại không đi

III.

Sau mười năm lẽ anh thôi học
Nức nỡ chuông trường buổi biệt ly
Rộn rã từng hồi chuông xóm đạo
Tiễn nàng áo tím bước vu quy

Anh nhìn áo cưới mà anh ngỡ
Chiếc áo tang liệm khối tuyệt tình
- Hoa trắng thôi cài lên áo tím
Thôi còn đâu nữa tuổi băng trinh

Em lên xe cưới về quê chồng
Dù cách đò ngang, cách mấy sông
Anh vẫn yêu em người áo tím
Nên tình thơ ủ kín trong lòng

IV.

Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo
Anh làm chiến sĩ giữ quê hương
Giữ tà áo tím, người yêu cũ
Giữ cả lầu chuông, nóc giáo đường

Mặc dù em chẳng còn xem lễ
Ở giáo đường u tịch chốn xưa
Anh vẫn giữ lầu chuông gác thánh
Nghe chuông truy niệm mối tình thơ

Màu gạch nhà thờ còn đỏ thẫm
Như tình nồng thắm thuở ban đầu
Nhưng rồi sau chuyến vu quy ấy
Áo tím tình thơ đã nhạt màu

V.

Ba năm sau chiếc xe hoa cũ
Chở áo tím về trong áo quan
Chuông đạo ngân vang hồi vĩnh biệt
Khi anh ngồi kết vòng hoa tang

Anh kết vòng hoa màu trắng lạnh
Từng cài trên áo tím ngây thơ
Hôm nay vẫn đoá hoa màu trắng
Anh kết tình chung gởi xuống mồ

VI.

Lâu quá không về thăm xóm đạo
Không còn đứng nép ở lầu chuông
Những khi chuông đổ anh liên tưởng
Người cũ cầu kinh giữa thánh đường

“Lạy Chúa con là người ngoại đạo
Nhưng tin có Chúa ở trên cao
Trong lòng còn giữ màu hoa trắng
Cứu rỗi linh hồn con, Chúa ơi !”

Bến Tre, 14-11-1958
Kiên Giang

Viết xong bài này, định mang sang nhà “ai kia” để còm-men. Nhưng sợ người ta nói

Hổng quen sao cứ chàng ràng

Muốn vô xả rác xếp hàng dùm tui…

Rồi người ta xóa đi thì uổng cho “tấm chân tình” của mình lắm ru!

Thôi thì mở entry mới, đưa những dòng góp nhặt vào đây…mời bè bạn thay tách trà buổi sáng.

Yên Sơn

About these ads

Trả lời

  1. bai tien va la cua nha tho kien giang do chu


Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Chuyên mục

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: